Triển vọng của du lịch Vũ trụ

30 năm sau khi con người đã đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng, ngày 23/6, tại Washington đã diễn ra Hội nghị quốc tế về du lịch vũ trụ.
Edwin “Buzz” Aldrin, người cùng với Neil Amstrong trở thành những người đầu tiên đi bộ trên mặt trăng ngày 30/7/1969, đã là người thuyết trình chính về dự án du lịch Mặt Trăng tại Washington. E Aldrin nói: “Thành công của chương trình Apollo (chương trình của NASA về việc chinh phục Mặt Trăng) đã gợi mở cho kế hoạch viễn tưởng về các chuyến du lịch Mặt Trăng. Nhưng kế hoạch đó không hoàn toàn viễn tưởng mà đang có khả năng trở thành hiện thực. Dự án khách sạn trên Mặt Trăng đã được thiết kế giống như các phi thuyền không gian trong phim “2001”. Vấn đề khó khăn hiện nay là làm sao đặt được khách sạn lưu động này vào quỹ đạo của mặt trăng.
Hai năm trước, tại cuộc hội thảo quốc tế vế du lịch Mặt trăng tại Bremen, Cộng hòa Liên bang Đức, Hartmut Muller, một trong những người đưa ra ý tưởng về du lịch vũ trụ (Space Tour), cho biết dự trù vé cho mỗi Tour du lịch mặt trăng sẽ là khoảng 25000 USD/người/chuyến và mỗi chuyến du lịch lên mặt trăng sẽ cần kinh phí từ 400 triệu USD đến 1 tỷ USD. Du khách sẽ được đưa lên khách sạn mặt trăng và từ đây, đi bộ ít bước, chụp ảnh, làm dấu kỷ niệm trên mặt trăng…
Theo một nghiên cứu mới đây, do NASA (cơ quan hàng không và vũ trụ Mỹ) và Hiệp hội vận tải vũ trụ Mỹ (STA) phối hợp thực hiện hồi đầu năm nay, khoảng 1/3 số người Mỹ trưởng thành nói họ muốn trong cuộc đời mình sẽ có một chuyến du hành 2 tuần trong vũ trụ và muốn rằng mỗi chuyến như vậy chỉ khoảng 5000USD.
Hiện nay, tại Mỹ có các “Space Tour”, nhưng chỉ là các tour thăm Bảo tàng vũ trụ, thăm các Space Camps, thăm nơi phóng các vệ tinh và tàu vũ trụ, thăm các trung tâm nghiên cứu – phát triển các tàu vũ trụ của chính phủ Mỹ và bay trên các máy bay nghiên cứu. Tổng doanh thu của loại hình du lịch này là khoảng 1 tỷ USD/năm.
Gary Bachula, Quyền thứ trưởng về công nghệ tại Bộ Thương mại Mỹ, nói tại Hội nghị Washington rằng việc phát triển du lịch vũ trụ là một hướng phát triển tất yếu vì chỉ có phát triển kinh doanh trong lĩnh vực này mới có thêm kinh phí và thúc đẩy đa ngành trong các chương trình chinh phục vũ trụ. John Logsdon, Giám đốc Viện chính sách vũ trụ thuộc đại học Washington cho rằng để đưa ý tưởng du lịch Mặt trăng trở thành hiện thực cần từ 10 đến 15 năm tới và trong thời gian này, chính phủ phải đi tiên phong.
Phương Linh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Phố Mai Hắc Đế được lựa chọn phát triển thành phố ẩm thực ở Hà Nội

Sau hơn một tháng khảo sát các tuyến phố có nhiều cửa hàng ăn sầm uất, có tiếng ở Hà Nội như phố Nam Ngư, Tống Duy Tân, Kỳ Đồng, Nguyễn Khuyến, Tạ Hiện, Hàng Buồm, Lương Ngọc Quyến, Đường Láng, Lê Văn Hưu… Sở Thương mại Hà Nội – cơ quan chủ trì đề án: “Phố ẩm thực Việt Nam tại Hà Nội” – đã trình lên Ủy ban nhân dân thành phố Mai Hắc Đế làm phố ẩm thực Việt Nam tại Hà Nội.
Phố Mai Hắc Đế, thời Pháp được đặt tên là phố Sa-rông (Rue Char-ron), sau giải phóng được đổi tên thành Mai Hắc Đế. Phố này dài hơn 800 m, nối từ phố Nguyễn Du sang phố Lê Đại Hành. Thời Pháp thuộc phố Mai Hắc Đế là phố công chức, hầu hết các gia đình khá giả, phong lưu và có nhiều ông làm tới “ông Thông, ông Phán”. Thời đó theo nhà sử học Nguyễn Vĩnh Phúc thì phố không có cửa hàng ăn. Không có tiếng tăm gì về món ăn độc đáo riêng ở Hà Nội.
Sau này phố Mai Hắc Đế được sửa chữa lại, xây dựng lại, nay hầu hết là nhà cao tầng, ở hai bên phố đều có mặt tiền rộng. Năm 96 trở lại đây, phố Mai Hắc Đế phát triển nhiều cửa hàng ăn, gồm nhiều món như đặc sản biển, bún miến ngan, bún thang, phở xào giòn, gà tần, các loại lẩu lươn, cá quả (lóc), cháo cá ám… nhưng chưa có món ăn độc đáo và nổi tiếng, các cửa hàng ăn chưa đi sâu vào các món ăn truyền thống của 3 miền, nhiều món ăn bị pha tạp… Kỹ thuật viên nấu ăn hầu hết chưa qua lớp đào tạo chính quy, chỉ vừa làm vừa học.
Hiện tại phố Mai Hắc Đế có 55 cửa hàng ăn uống, nhà hàng rộng hơn các phố khác, nhiều món ăn được tiếp thị “bắt mắt” và phong cách đón khách đến rất niềm nở, có đội ngũ trông xe trông xe không mất tiền.
Thấy rõ được thuận lợi, khó khăn của phố Mai Hắc Đế, đoàn khảo sát 10 tuyến phố đã quyết định trình dự án lên Ủy ban nhân dân thành phố đề nghị kiến trúc sư trưởng cấp giấy phép, sửa chữa, tạo dáng nhà cho phố Mai Hắc Đế, và Ủy ban nhân dân thành phố đã giao cho quận Hai Bà Trưng thực hiện trong quý II năm 2000.
Kinh phí cho thực hiện dự án ước tính 120 triệu đồng. Đây là số tiền quá ít, sẽ rất khó để sửa chữa, xây dựng và đào tạo kiến thức cho dân để Mai Hắc Đế thực sự trở thành một phố Du lịch – ẩm thực của Hà Nội.
Vân Hồ – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Bãi biển Thuận An chưa được đầu tư đúng với tiềm năng

Bãi biển Thuận An hoang sơ, trong trẻo, phẳng lì, đầy cát vàng, chỉ cách thành phố Huế khoảng 20 phút hành trình bằng ô tô hoặc xe máy.
Điều du khách cảm thấy hụt hẫng là khi ô tô đi hết con đường trải nhựa dài hơn 20 km phẳng lì êm ru, rộng rãi, sau khi hít thở không khí trong lành của phá Tam Giang, của đồng quê dân dã và thơ mộng xứ Huế; cũng là lúc đến bên bờ biển Thuận An, với những con đường bụi mù mịt và những mái nhà cấp 4 thưa thớt, phủ đầy bụi đỏ. Cả một bãi biển dài vài cây số, với làn nước biển trong xanh, sạch sẽ, chỉ có duy nhất một nhà nghỉ của Sở Công an tỉnh Thừa Thiên – Huế cao 2 tầng và một tum là nơi nghỉ của các cán bộ, viên chức trong ngành. Ngoài ra, chấm hết. Cũng có một dãy quán và lều dựng sát biển nhưng lèo tèo và quá khiêm tốn, trông vắng vẻ, tiêu điều như một buổi chợ chiều. Không thấy bóng du lịch nước ngoài đến tắm biển, có lẽ ở đây không phục vụ cho sử nghỉ ngơi sinh hoạt của họ. Người đến nghỉ không chỉ muốn tắm mát và rỡn sóng biển, họ còn muốn hưởng cái không khí sắc mầu nhộn nhịp trên bờ. Nhưng ở đây những thứ ấy thiếu vắng. Khách tắm biển thường là dân trong thành phố Huế, sua buổi làm việc, đi xe máy xuống bãi biển này tắm buổi chiều hoặc khách đi Nam về Bắc ghé qua xuống tắm, xong lại trở về Thành phố Huế.
Muốn mua một thứ gì đó phục vụ sinh hoạt trong ngày nghỉ ở đây không có, phải qua một chặng đường đầy cát bụi hơn 1 cây số mới có thể mua được. Tóm lại là biển Thuận An chưa được đầu tư đúng với tiềm năng.
Phải thừa nhận rằng, nghỉ ở biển Thuận An thật là bình yên, ở đây không có cảnh ăn xin hoặc chèo kéo khách mua hàng lẵng nhẵng, dai dẳng như ở Sầm Sơn, Cửa Lò. Người xuống bãi tắm không thấy sắc màu sặc sỡ như ở các bãi biển khác. Với chiếc may ô, chiếc quần cộc, nam cũng như nữ, đã có thể xuống tắm rồi.
Anh bạn tôi nói đùa: Đúng là một bãi biển hoang sơ, dân dã. Trong câu nói đó sự khên về sự chân chất, mộc mạc nhưng có cả sự băn khoăn ngậm ngùi cho một bãi biển chịu cảnh “hạt gạo tám xoan, thổi nồi đồng điếu lại chan nước cà”.
Được biết, sắp có sự kiện du lịch Festival Huế năm 2000, nằm trong Chương trình hàng động quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000. Nếu biển Thuận An được sự quan tâm đầu tư: trải nhựa vài con đường đất đỏ, thêm những rặng dừa và những vườn cây xanh và một số nhà nghỉ tiện nghi hơn… chỉ thế thôi, cũng có thể thu hút du khách lưu trú tại nơi đây lâu hơn sau những ngày nóng bỏng ngắm sông Hương, núi Ngự, thăm Cố đô với các lăng tẩm, đền đài… chiều về tắm biển và đêm xuống thư giãn với tiếng sóng và gió biển dạt dào…
Ấy là chưa nói về lâu dài, biển Thuận An phải vươn lên và vượt Cửa Lò, Sầm Sơn, Bãi Cháy, Nha Trang,… Bởi vì, ngoài bãi biển trong xanh và đầy nắng gió, chưa ở đâu bằng ở nơi đây – ở trên bờ – phía Thành phố Huế cách bãi biển không xa lắm là cả một bề dày lịch sử và các điểm tham quan đầy kỳ thú và hấp dẫn. Chả nhẽ, khách đến tham quan những di tích thắng cảnh này, rồi lại phải rời đi để tắm biển Đà Nẵng, Nha Trang phía Nam hay Cửa Lò, Sầm Sơn phía Bắc?
Văn Xuyềnh-Tuần Du Lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Dịch vụ mùa nước lũ ở Hà Nội

Theo cách nhìn của người sống lâu năm thì năm nào được mùa nhãn, nước sông Hồng lên cao. Mà nhãn năm nay lại rất được mùa. Hàng quán, phố xá khắp chợ cùng quê đâu đâu cũng thấy nhãn là nhãn. Dường như tiên liệu được điều này, dịch vụ mùa lũ phát triển đến là nhanh chóng. Khi nhà cửa của bà con ven sông bị ngập lụt phải lên đề hoặc tá túc trong các phố Trần Nhật Duật, Lò Sũ, Hàng Chiếu, Mã Mây… các dịch vụ thuốc men, đồ ăn nguội, đồ ăn khô, trông trẻ, lều bạt, thuyền bè… đến dịch vụ trông xe máy, xe đạp 1000đ-2000đ/chiếc qua đêm tất cả đã sẵn sàng.
Một số người dân sống ở sát mép nước, họ chẳng có đồ đạc nhiều, họ rút vào sống ở gầm cầu Long Biên (qua con đê) hoặc họ chọn các mái hiên tạm trú qua đêm.
Dịch vụ gánh vác thuê rất đắt hàng. Những cửu vạn là nữ, sống hàng ngày ở chợ Long Biên chở, mang vác hàng trên xe, gánh và giao cho chủ, đã có không ít phụ nữ buổi sáng mang vác hàng hoa quả, buổi chiều vào các phường Chương Dương Độ, Hàm Tử Quan, đi chở đồ đạc chạy lũ cho các hộ dân ở nhà tầng một. Cũng có người giúp việc trong nhà mang vác đồ từ tầng một lên tầng ba. Chợ Long Biên thu hút khá đông dịch vụ gánh thuê. Các “cửu vạn nữ” chỉ cần gánh vác hoa quả từ Sài Gòn, Bắc Giang xuống chợ và có ngày họ kiếm được từ 50.000 đ – 70.000 đ tiền công, tăng gấp 2 lần ngày thường. Dịch vụ xe xích lô, xe cải tiến, xe ôm đội quân này thường trực ở bên bờ đê thành phố, đã có cả xe cải tiến chở cả hàng khô, mắm muối, đồ hải sản đi bán rong, và theo người chở vác thuê này thì các đồ ăn khô, dự trữ như mì tôm, dầu vừng, dầu lạc, dầu hỏa, gạo, mắm muối đều bán chạy hơn gấp 2-3 lần ngày thường.
Đây là nghề thời vụ, cũng như đến tết, nhiều việc làm, nghề cửu vạn nữ không lo đói. Chị Nguyễn Thị Theo người ở Hưng Yên nói: “nước lũ cao thì có nhiều việc hơn, tôi có thể bán bánh mì, bán nước sạch, và cõng trẻ con đi học. Những ngày như thế kiếm dăm chục… là thường”. Chị người Thanh Hóa nói “trước tôi chở xe bò than tổ ong đem từ bên kia cầu, sang dọc phố Cầu Đất, Bạch Đằng giao than, nước lũ đến, tôi đi bán rượu. Cứ mùa lũ, rượu đế (quốc lủi) 4000đ-5000đ/lít bán chạy lắm. Có hôm tôi bán rượu suốt đêm cho những người ngâm nước chở hàng ở chợ Long Biên, kiếm ăn theo lũ cũng được”
Những con tàu, con phà chở chuối xanh, na, rau, quả từ Việt Trì, Sơn La về bến, nhiều xe thồ đã chờ sẵn để chở hàng đến các điểm bán lẻ. Dọc phố Bạch Đằng, Cầu Đất, những gian nhà cho thuê chứa đầy na ở miền ngược, và gỗ cốp pha cho thuê chống lũ. Những người ngủ trọ ở bến Chương Dương, khi nước lên họ ra gầm cầu, hoặc tìm các hiên ngủ qua đêm, riêng đàn bà, họ ngủ thành tốp để bảo vệ nhau.
Các loại thuyền tôn được mua ở phố Hàng Thiếc với giá 300.000đ-500.000đ/c có thể chở được 2-3 người. Đã có gia đình còn úp thuyền lên nóc nhà, chờ nước cao mới đem dùng. Mùa lũ đã cận kề, sự chuẩn bị chu đáo các phương tiện đối phó với lũ lụt của từng gia đình, khối phố là vô cùng cần thiết.
Vân Hồ – Tuần Du lịch – Số 37(89) – 13 -20/9/1999

Lương của các Tổng thống – Thủ tướng

Nước Mỹ giàu thế, nhưng người đứng đầu nước Mỹ không phải là người có mức lương cao nhất. Do sức ép từ nhiều phía, Mỹ có kế hoạch tăng lương cho Tổng thống vào nhiệm kỳ tới, lương của Tổng thống từ năm 2000 trở đi có thể tới 400.000 USD/năm (bằng 3,1 triệu HK$).
Đây là lần đầu tiên trong 30 năm qua, Mỹ tăng lương cho Tổng thống. Hàng năm Mỹ thường điều chỉnh cho Phó tổng thống và các quan chức trong chính phủ, nhưng đối với Tổng thống hầu như không thay đổi kể từ năm 1969 tới nay. Bởi vậy Quốc hội Mỹ đang thảo luận dự luật tăng lương cho Tổng thống nhiệm kỳ tới.
Hiện nay, lương hàng năm cao nhất thế giới đối với những người lãnh đạo các nước thuộc về Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong là trên 6,34 triệu HK$, tiếp đó là của Thủ tướng Nhật Bản trên 3 triệu HK$, của Thủ tướng Đức Schoreder là 2,49 triệu HK$, của Clintơn là 1,56 triệu HK$, của Thủ tướng anh trên 1 triệu HK$, của Tổng thống Nga Boris Yeltsin là 25.740 HK$, còn của chủ tịch Giang Trạch Dân của Trung Quốc thấp nhất chỉ có 13.826 HK$/năm. Tất nhiên đây mới chỉ là lương, chưa kể các quyền lợi khác của các chính khách, mà nếu tính hết, vị trí nêu trên chắc chắn phải thay đổi.
Lương giáo sư đại học cao gấp đôi lương Tổng thống
Tạp chí Veja, tạp chí phổ biến nhất của Brazil cho biết hiện nay lương của Tổng thống nước này, Fernando Henrique Cardoso là 8.500 Reals (5.000 USD/tháng), trong khi lương của ông Marcondes Rosa de Sousa, 56 tuổi, giáo sư thỉnh giảng tại trường Đại học liên bang Ceara lại nhận hàng tháng là 17.000 Reals
Theo luật pháp Brazil, lương của các công chức nước này không vượt quá 8.000 Reals. Trường hợp duy nhất vượt hạn ngạch này là tổng thống. Tuy nhiên ở các khu vực khác, lương được trả theo chất lượng công việc, do vậy nhiều ngành nghề có mức lương rất cao, điển hình là lương của các giáo sư đại học.
Hàng năm, quỹ lương của Brazil là 40 tỷ Reals (23,5 tỷ USD) thực sự là một gánh nặng đối với ngân sách quốc gia. Do vậy việc hạn chế lương công chức là một việc làm bắt buộc.
Trên thế giới có bao nhiêu bác sĩ?
Tổng số bác sĩ trên thế giới hiện nay khoảng 3.300.000 người, tức là trung bình cứ trong 1.237 người dân thì có 1 bác sỹ. Tỷ lệ bác sĩ nhiều nhất là ở CHLB Nga cứ 289 người thì có 1 bác sĩ. Đứng thứ 2 là Bắc Mỹ cứ 552 người thì có 1 bác sĩ. Tỷ lệ bác sĩ ít nhất là ở các nước đang phát triển như đại lục châu Phi trong 5.435 người mới có 1 bác sĩ. Ở châu Á cứ 2.877 người có 1 bác sĩ. Điều kiện chữa bệnh kém nhất là Bắc Phi – 17.480 người có 1 bác ĩ.
Thanh Hương (Theo tạp chí Độc giả Trung Quốc)
Sự kiện chưa từng có trên thế giới:
Sydney – điểm hồi chuông vào đầu thiên niên kỷ mới
Sydney sẽ giữ vai trò chủ nhà của chương trình truyền hình dài chọn lọc tường thuật cuộc bắn pháo hoa lớn nhất thế giới cùng buổi lễ chi phí nhiều triệu đô la để đón mừng thiên niên kỷ mới vào ngày 31/12.
Khoảng 3 tỷ khán giả trên thế giới đang chờ đợi được xem buổi phát sóng với phạm vi toàn cầu này thông qua hai hệ thống vô tuyến quốc tế chính.
Người ta cũng dự kiến sẽ có khoảng 2 triệu người sẽ tụ tập ở các vị trí có ưu thế tại cảng Sydney để xem hai buổi trình diễn với tổng chi phí là 3,3 triệu đô la. Tại buổi trình diễn thứ hai vào lúc nửa đêm pháo hoa sẽ được đốt trên diện tích rộng 5,5 km vuông.
Hàng ngàn người đã đặt chỗ cho bữa ăn tối tại những quán ăn nhìn ra cảng với giá 1000 đô la/ một người. Tất cả các phòng khách sạn nằm quanh vùng vịnh cũng đã được đặt trước với giá cao chưa từng thấy. Các hợp đồng thuê tàu cũng đã được đặt từ nhiều tháng trước.
Từ tháng giêng những người đứng ra tổ chức đã họp với nhau mỗi tuần một lần để đảm bảo buổi lễ này sẽ là một dịp “không ai có thể quên được” trong cuộc đời mình. Họ muốn mọi người trên thế giới được chiêm ngưỡng các buổi lễ này của Sydney đồng thời đây cũng là sự quảng cáo có giá trị cho thành phố này. Không còn nghi ngờ gì nữa, buổi trình diễn pháo hoa vào lúc nửa đêm này thực sự sẽ có quy mô lớn nhất trên thế giới từ trước tới nay.
Diện tích rộng lớn của cảng Sydney cho phép buổi trình diễn pháo hoa này có được quy mô lớn hơn so với các thành phố khác như London, New York hay Paris. Đây là buổi lễ lớn nhất trong lịch sử nước Úc được diễn ra cả ở dưới nước và trên bờ.
Tham gia vào các buổi trình diễn còn có 20 đội tàu ba tầng được treo đèn lồng đi vòng quanh vịnh với đội hình dài hàng km và cực điểm của buổi lễ sẽ là cuộc trình diễn pháo bông như một thiên anh hùng ca thực sự vào lúc nửa đêm.
Thị trưởng thành phố Sydney ông Frank Sartor cho biết buổi lễ này là sự kiện lớn nhất chưa từng tổ chức tại Sydney.
Hải Yến – Tuần Du lịch – 1999

Lào Cai “Các chỉ tiêu kinh doanh du lịch đều tăng”

Tính đến hết tháng 6/1999, Lào Cai đã đón được 60.000 lượt khách tăng 30% so với 6 tháng đầu năm 1998. Trong đó khách quốc tế đạt 36.000 lượt, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Thời gian lưu trú bình quân một khách cũng đã được nâng lên một chút. Nếu như năm 1998, mỗi khách lưu lại Lào Cai khoảng 1,5 ngày, thì bước sang năm 1999, thời gian lưu trú của khách đã tăng lên xấp xỉ 2 ngày. Công suất buồng, phòng các khách sạn cũng đạt khá hơn, từ 22% năm 1998, đến mùa du lịch năm 1999 đã đạt 30%. Một số khách sạn có khả năng khai thác buồng phòng khá cao, như khách sạn Hàm Rồng đạt 50 % công suất, khách sạn Duyên Hải 60%… Đây là một tín hiệu vui cho thấy sự khởi đầu tốt lành của mùa du lịch năm 1999.
Do phát huy được lợi thế có cửa khẩu thông với Hà Khẩu – Vân Nam nên du lịch Lào Cai đã khai thác có hiệu quả thị trường khách du lịch Trung Quốc. Hình thành được nhiều tour du lịch cho đối tượng khách này có thể lựa chọn, đó là các tour tham quan xung quanh thị xã Lào Cai trong vòng nửa ngày, tour từ thị xã Lào Cai đi Sa Pa, Bắc Hà, Phố Lu, Cam Đường và gần đây là các tour du lịch đường dài cho khách Trung Quốc đi bằng thẻ du lịch tới Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Đối với khách là người Việt, du lịch tới Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Đối với khách là người Việt, du lịch Lào Cai cũng đã xây dựng một số tour gắn với những điểm du lịch nổi tiếng bên Vân Nam như Nam Khê, Yến Tử động, thành phố Côn Minh, các làng văn hóa dân tộc… Nhờ vậy mà 6 tháng đầu năm 1999, du lịch Lào Cai đã đưa, đón được 18.000 lượt khách qua cửa khẩu tăng 40% so với cùng kỳ năm 1998. Trong đó khách Trung Quốc đạt 14.712 lượt, khách Việt Nam là 3.288 lượt. riêng khách Trung Quốc đi bằng thẻ du lịch, Lào Cai đã đón được 1362 lượt.
Khoa thận nhân tạo bệnh viện bạch mai phục vụ bệnh nhân 3 ca/ngày
Khoa thận nhân tạo bệnh viện Bạch Mai vừa được sửa chữa nâng cấp, 2 phòng với 27 máy chạy thận nhân tạo, tăng 3 máy so với tháng 6/99. Hiện nay số bệnh nhân chạy thận thường xuyên của Khoa lên tới 220 người, nên khoa phải làm việc 3 ca/ ngày. Đối với bệnh nhân có bảo hiểm được miễn phí những bệnh nhân không có bảo hiểm y tế phải nộp 300.000đ/ 1 lần chạy thận/ 4h. 7 tháng đầu năm 99, Khoa thận nhân tạo đã chạy thận miễn phí cho những bệnh nhân nghèo trên cả nước lên tới trên 100 triệu đồng; Giáo sư bác sĩ Nguyễn Nguyên Khôi chủ nhiệm Khoa thận nhân tạo cho biết: “So với việc chạy thận nhân tạo ở Thái Lan – Trung Quốc phải mất từ 40 – 60 USD/ lần chạy thận nhân tạo thì ở Việt Nam chỉ mất 300.000đ/ lần/ 4h là sự cố gắng rất lớn của tập bác sĩ và cán bộ điều dưỡng của khoa. Những dược sỹ của Khoa đã nghiên cứu tự pha chế dung dịch, tiết kiệm cho mỗi bệnh nhân trong một lần chạy thận là 150.000đ. Những bệnh nhân chạy thận nhân tạo thường phải chạy 3 lần/ một tuần.
Khoa thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai là 1 trong 8 công trình được Tổng Liên đoàn Lao động

PV -Tuần Du lịch – 1999

Tuyên Quang

Đã bao lần tôi qua
Mà chưa kịp thuộc tên một đường phố
Chỉ mang máng một phố dài bờ sông
Phù sa ngấn đọng vách tường mỗi mùa nước lũ
Bâng khuâng một mảng thành cổ
Dấu tích của thời loạn lạc.
Và dòng Lô xanh như một vệt chàm
Chảy suốt tuổi thơ tôi
Ngân reo bài ca kháng chiến
Tuyên Quang
Cái thị xã nghèo lầm than gồ ghề trong những trang văn Lan Khai (*)
Có ai ngờ, sông Lô níu duyên tôi lại
Tôi không nhận ra lối cũ ngày xưa
Đường mới mở chưa kịp có tên nhà tên phố
Em lẫn giữa dòng người ra chợ
Đôi mắt nâu hơn, to hơn sau bao năm tháng nhọc nhằn.
Tôi ngỡ ngàng phát hiện Tuyên Quang
Có một đêm mùa thu huyền ảo
Tôi quên cả dòng Lô ngân vang cạnh mình với những bài hát cũ
Quên cả cái phố chợ ồn ã ngày thường
Có bóng em sáng chiều gánh hàng cho mẹ
Tôi như không biết em đã từng chạy giặc từ cổng trời Hà Giang trên kia
Không cần biết tuổi ba mươi em đã thành gái goá
Đêm Tuyên Quang này chúng mình đều rất trẻ
Và bàn tay em sao quá dịu dàng
Lẽ nào đời ta để mất một Tuyên Quang
Hương phố lẫn hương rừng, hương đồng toả thơm cốm mới
Mái tóc đằm sương ngào ngạt hương em.
Em, Tuyên Quang
Mắt em, một mảnh sông Lô neo đời tôi phiêu dạt
1990
(*) Nhà văn Lan Khai, sinh trưởng ở Tuyên Quang, có tiểu thuyết “Đường rừng”, “Lầm than” và nhiều cuốn phóng sự, tiểu thuyết lịch sử in trước cách mạng tháng Tám.
Thơ khắc hoạ hình ảnh một thị xã miền ngược nằm bên bờ con sông Lô trong xanh, và một mối tình của người con gái đã “neo” cuộc đời tác giả lại đó. Có lẽ đây là một bài thơ – văn xuôi của nhà tiểu thuyết Hoàng Minh Tường. Nếu thử dấu đi các từ địa danh, người đọc, nhất là ai một lần qua, vẫn có thể nhận ra đó là cái thị xã nào? Phải nói tác giả đã tinh, phát hiện ra nhiều nét rất riêng của thị xã Tuyên Quang:
“Phù sa ngấn đọng vách tường mỗi mùa nước lũ
Bâng khuâng một mảng thành cổ

Và dòng Lô xanh như một vệt chàm”
Hơn thế, anh còn xới lên những vỉa ngầm thuộc tầng sâu văn hoá của mảnh đất đó:
“Cái thị xã nghèo lần than gồ ghề trong những trang văn Lan Khai”
“…
Đường mới mở chưa kịp có tên nhà tên phố
Em lẫn giữa dòng người ra chợ”
Nói cái chung cũng là để nói cái riêng, nói cảnh cũng để nói tình. Đến đây người đọc mới “ngỡ ngàng phát hiện ra một Tuyên Quang” của riêng nhà thơ, với “Một đêm huyền ảo” với “Cái phố chợ ồn ã ngày thường – Có bóng em sáng chiều”, với “Hương phố lẫn hương rừng…” để cuối cùng nhà thơ phải thốt lên: “Đêm Tuyên Quang này chúng mình đều rất trẻ”. Ở đoạn thơ này, có những chi tiết có vẻ như rất riêng của tác giả. Song nó là sự gởi gắm, là tình cảm thật chân tình, nên người đọc thêm đồng cảm.
Tôi cứ chú ý và bị ám ảnh bởi câu thơ hơi bất ngời đặt vào: “Lẽ nào đời ta để mất một Tuyên Quang” (Tất nhiên “Tuyên Quang” ở đây cũng là của riêng tác giả. Mối tình này là có gì mỏng mảnh chăng? Hay bởi nó quá lớn và tràn đầy nhà thơ lo đấy thôi? u cũng là lô-gich thôi. Có điều như thế cũng có nghĩa là sự khẳng định của tác giả “không để mất hạnh phúc đó”.
Tôi vốn là người Tuyên Quang có thâm niên và có lúc cũng có “một Tuyên Quang có thâm niên và có lúc cũng có “một Tuyên Quang cho riêng mình”. Bởi thế mà càng ghen tị với Hoàng Minh Tường khi anh có một bài thơ và mối tình đẹp như thế. Cảm ơn nhà thơ cho tôi trở về những hồi ức ngọt ngào, ở cái thị xã hương rừng đằm mỗi sáng ấy…
Lời bình của Nguyễn Siêu Việt – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Thử đóng vai Nữ hoàng Anh tại khách sạn Sofitel Hà Nội

Thứ bảy tuần trước nhóm lớp 10H cũ của chúng tôi hớn hở đón cô bạn thân lâu ngày chưa gặp từ Sài Gòn ra chơi. Sau khi dạo một vòng quanh Hà Nội, Thanh Hương lớp trưởng liền gợi ý cả bọn đi ăn kem Bờ Hồ thì Thủy – khách quý của chúng tôi tuyên bố: “Thôi, hôm nay tao khao. Tại sao chúng mình cứ ăn kem như con nít mãi thế nhỉ. Hãy đến Sofitel Hotel, ở đó vừa có kiểu ăn mới “Afternoon Tea” (Uống trà buổi chiều) dành cho các Madam hay lắm. Tại sao chúng mình không thử làm “Mệnh phụ phu nhân” một lần xem sao !” Lời đề nghị thật hấp dẫn đối với mấy đứa công chức như chúng tôi, chưa một lần được vào khách sạn, mà lại khách sạn liên doanh lịch lãm, cao sang như Sofitel.
Sau khi qua phòng lễ tân choáng lộn, chúng tôi được dẫn vào nhà hàng Le Club Bar của khách sạn. Một không gian hoàn toàn yên tĩnh, sang trọng, ấm cúng với những chiếc ghế đệm bọc vải êm ái bọc sát cửa kính trong suốt trông ra một màu xanh mát rượi của thảm cỏ và cây ban đỏ thả từng chùm hoa ngộ nghĩnh trên sân bể bơi khiến chúng tôi cảm thấy thực sự thư thái. Trên bàn chúng tôi là hai lẵng đựng thức ăn và hoa quả. Lẵng làm bằng i-nốc bóng loáng, sạch sẽ, chia làm ba tầng. Tầng cuối cùng to nhất đựng các loại bánh ngọt phết kem, bơ, mứt và sôcôla. Tầng thứ hai là các loại bánh mặn kẹp trứng, kẹp thịt. Và tầng trên cùng nhỏ nhất đựng các loại quả tươi. Cạnh hai lẵng chính là những tách trà, các gói đường, sữa uống kèm và đĩa sành sứ hoặc mây tre đựng các loại bánh xèo, bánh nướng. Chúng tôi vừa nhấm nháp các loại bánh với nước trà vừa tám đủ mọi thứ trên trời dưới bể, nhớ đến những câu chuyện xưa và ôn lại những giấc mơ ngọt ngào của tuổi trẻ.
Cô phục vụ cho chúng tôi biết, “Afternoon tea” là một phát kiến của Nữ hoàng Anh Quốc Victoria. Các quý bà của Hoàng gia Anh thường có thói quen tụ tập nói chuyện phiếm vào lúc 4 giờ chiều. Để cuộc nói chuyện được phong phú và rôm rả, Nữ hoàng liền nghĩ cần có thêm các loại bánh và hoa quả tươi nhấm nháp với nước trà. Từ đó khoảnh khắc nghỉ ngơi kiểu này đã trở thành một trong bốn bữa ăn thường nhật của người dân Anh. Hiện nay “uống trà buổi chiều” – thói quen phong lưu của các quý bà quý cô Anh Quốc mới chỉ được biết đến trong một số khách sạn quốc tế sang trọng ở Việt Nam.
Thúy Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Đầu tư như thế, có nên

Đầu năm 1996 tỉnh Lai Châu quyết định cho xây dựng một khu nhà nghỉ, du lịch và hội họp tại khu vực hồ Pa Khoang. Công trình gồm một biệt thự nằm sát bên hồ, diện tích khá rộng và đẹp, có nhiều phòng nghỉ đầy đủ tiện nghi, có phòng họp, phòng ăn và nơi vui chơi giải trí… với tổng số vốn khi nghiệm thu là 3,2 tỷ đồng. Đơn vị thi công (bên B) là Công ty xây dựng tư doanh số 1 ứng tiền ra xây dựng công trình. Sau khi hoàn thành vào cuối ănm 1996, đã có nhiều ban ngành và các quan chức của tỉnh, của Trung ương và du khách đến đây hội họp, ăn nghỉ, vui chơi giải trí… Nhiều người đã từng đến đây đều có cảm nhận Lai Châu cho xây dựng khu nhà nghỉ và du lịch bên hồ Pa Khoang là hợp lý và coi đây là sự khởi đầu, tiền đề cho sự phát triển kinh tế du lịch ở Lai Châu. Song chẳng rõ vì lý do gì mà việc khai thác kinh doanh tại khu nhà nghỉ này lại bị đình chỉ vô thời hạn và cũng không biết vì nguyên nhân nào mà cho đến tận cuối năm 1999 này, bên A (tức Uỷ ban nhân dân tỉnh) cũng chưa nhận bàn giao công trình ? Khi chúng tôi ghé thăm hồ nước chứa Pa Khoang thấy cảnh tượng nơi đây thật hoang vắng, khu nhà nghỉ không được khai thác, sử dụng đang có chiều hướng xuống cấp. Một số người trông coi ở đây (chắc là người của bên B) phàn nàn rằng trên 3 tỷ đồng ngốn vào công trình này là vay vốn ngân hàng, lãi suất thì cứ phải trả đều hàng tháng mà công trình thì lại chưa được thanh quyết toán lấy một đồng?
Lai Châu đang là một tỉnh còn rất nghèo khó. Chính vì nghèo nên mọi chi tiêu đều phải cân nhắc, tiết kiệm và sử dụng hợp lý – điều này thì ai cũng biết. Việc để một công trình xây dựng phục vụ cho việc kinh doanh dịch vụ nhà nghỉ và du lịch trị giá hàng tỷ đồng không những không khai thác, phát huy được mà lại để đang dần dần bị xuống cấp thì quả là lãng phí – nếu không nói là có tội với dân. Bởi tiền nào thì cũng là tiền của dân cả.
Thiện Nhân – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Khu du lịch Sa Huỳnh trước nguy cơ xâm lược của biển cả – Phần 2

Trong khi chờ ý kiến của UBND tỉnh, Công ty du lịch Quảng Ngãi đã nhờ Sở Khoa học – Công nghệ và môi trường Quảng Ngãi khảo sát thực địa, tìm biện pháp khắc phục. Tại biên bản khảo sát ngày 16/7/1999, Sở KHCN-MT đề nghị cần phải ngăn chặn ngay tình trạng khai thác cát tại khu vực sát Quốc lộ 1A, cách cổng khách sạn Sa Huỳnh khoảng 200 mét về phía bắc, mà theo nhiều ý kiến, đây làm ột trong những nguyên nhân làm thay đổi dòng nước, gây ra sụt lở bờ biển của khu du lịch; yêu cầu chủ dự án đầu tư xây dựng cảng cá Sa Huỳnh và khu dân cư mới Sa Huỳnh đánh giá tác động môi trường, vì đây cũng là một trong những yếu tố làm thay đổi dòng hải lưu. Theo ý kiến của đoàn kiểm tra, cần phải làm ngay một bờ kè tại khu vực bị xói lở để giữ lại phần đất bên trong, bảo vệ sự an toàn cho khách sạn Sa Huỳnh và toàn khu du lịch. Tiếp sau đó là nghiên cứu kỹ sự cố sạt lở và đề xuất các biện pháp bảo vệ bờ biển khu du lịch Sa Huỳnh. Ông Nguyễn Chí Bình – Phó giám đốc Công ty du lịch Quảng Ngãi kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh nên sớm có quyết định biện pháp xử lý, nguồn vốn khắc phục. Vì đây là vấn đề tác động của thiên tai nên đã nằm quá tầm tay của một Công ty du lịch còn nhỏ bé của ông. Số vốn dự kiến cho công việc này dự đoán cũng không nhỏ hơn 1 tỷ đồng.
Trong định hướng phát triển của tỉnh Quảng Ngãi những năm đến, du lịch – dịch vụ được xem là một ngành kinh tế quan trọng. Chương trình hành động du lịch hướng đến thiên niên kỷ mới của tỉnh Quảng Ngãi đã xác định cần xây dựng 2 khu du lịch chính của tỉnh là Mỹ Khê và Sa Huỳnh. Từ tháng 4 đến nay, Viện qui hoạch phát triển du lịch thuộc Tổng cục Du lịch đã giúp Quảng Ngãi qui hoạch chi tiết 2 khu du lịch này. Trong đó, khu du lịch Sa Huỳnh được qui hoạch để xây dựng thành một khu nghỉ ngơi tắm biển, vui chơi, thể thao biển… rộng hơn 40 ha. Trên cơ sở qui hoạch này, Công ty du lịch Quảng Ngãi đã mời gọi đầu tư và đã có một số doanh nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh đặt vấn đề hợp tác liên doanh. Đến Sa Huỳnh để được nghỉ ngơi trong không khí trong lành, tắm biển, đi thuyền sang thăm đảo khỉ, leo núi vào phía nam chiêm ngưỡng những bãi đá tuyệt đẹp của núi Cà Nú, thưởng thức món mắm nhum đặc sản của Châu Me… là niềm thích thú của du khách. Hằng ngày, khu du lịch Sa Huỳnh đón hàng trăm khách du lịch đến thăm và nghỉ ngơi. Triển vọng khi xây dựng hoàn chỉnh, Sa Huỳnh sẽ là một điểm du lịch lý tưởng của Quảng Ngãi và miền Trung. Tuy nhiên, trước nguy cơ bị xóa sổ do xâm thực của biển cả, Sa Huỳnh đang cần sự ra tay cương quyết, kịp thời của các ngành chức năng ở Quảng Ngãi “Xin đừng để quá muộn!”. Đó là lời khẩn cầu tha thiết của tất cả những ai yêu mến Sa Huỳnh.
PV – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000